Kỹ thuật siêu âm chẩn đoán độ đàn hồi
Gần đây các công trình nghiên cứu đã công bố sử dụng thành công kỹ thuật đàn hồi siêu âm để đánh giá sự xơ hóa gan ở bệnh HIV và xơ gan ở bệnh lý gan mãn tính. Hiện nay các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã nhận định là có thể sử dụng siêu âm đo độ đàn hồi để phân biệt tổn thương lành và ác tính ở mô tuyến vú. Những thành tựu dựa trên kỹ thuật này của họ liên quan đến việc đánh giá lực căng riêng của mô được gọi là phương pháp tương tự quann kết hợp (combined autocorrelation menthod - CAM).
Nguyên tắc của kỹ thuật đo độ đàn hồi là sự nén mô được sinh ra ngay bên trong mô. Phương pháp CAM cho phép tìm ra sự choáng chỗ theo chiều dọc bằng cách sử dụng phase domain (giai đoạn domain) để xử lý nhiễu loạn sắc”. BS Ako và cộng sự ở trường ĐH Tsukuba và Hitachi, Kasiwa, Nhật Bản đã giải thích (Radiology, May 2006, vol 329:2, p 341 - 350)
Với nghiên cứu này, nhóm thực hiện siêu âm chẩn đoán thời gian thực hiện 135 bệnh nhân nữ với 76 tổn thương lành tính và 56 tổn thương ác tính. Những tổn thương được phân loại ác tính bao gồm K dạng ống tuyến tại chỗ (DCIS) và K dạng ống xâm nhập loại không xơ hóa. Tổn thương lành tính bao gồm u nhú trong ống uyến và u xơ tuyến.
Tất cả các hình ảnh tính đàn hồi được tổng hợp bằng máy quét siêu âm kỹ thuật số với đầu dò Linear 7,5MHz (EUB 6500, EUP-L53), Hitachi Medical System, Tokyo). “Để nhận được những hình ảnh phù hợp cho việc phân tích, chúng tôi đặt đầu dò với một lực rất nhẹ, nó được xác định vừa đủ tiếp xúc với da và trong điều kiện hình ảnh thấy được, biểu hiện được mối tương quan giữa lực tác động của đầu dò và lực căng của mô với tỉ lệ tương ứng cần thiết.
Vùng cần quan tâm (The region of interest - ROI) trên hình ảnh đàn hồi bao gồm ở trên là lớp mỡ dưới da và ở dưới là lớp cơ ngực lớn. Bờ ngoài được xác định là > 5mm từ đường bờ của thương tổn. Dưới CAM, mỗi đơn vị ảnh của hình ảnh đàn hồi được xác lập do một trong 256 màu sắc với biểu hiện mày đỏ đại diện cho lực căng mạnh nhất, xanh lơ cho lực căng bé nhất, xanh lục cho lực căng trung bình. Các kiểu màu sắc được chia theo thang điểm với chỉ số từ 1 đến 5 theo những chỉ dẫn gần đây ở toàn bộ thương tổn hồi âm kém thì không có lực căng.
Chẩn đoán bệnh học cưối cùng theo kết quả này là 59 trường hợp tổn thương lành tính. Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng, chỉ số đàn hồi trung bình cao một cách đáng kể trong trường hợp ác tính (4.2) so với những tổn thương lành tính (2.1). Theo phương pháp CAM thì 86% thương tổn ác tính có chỉ số đàn hồi là 4 hoặc 5, và 68% thương tổn lành tính có chỉ số đàn hồi là 1 hoặc 2.
Độ nhạy của siêu âm chẩn đoán đo độ đàn hồi là 86,5%, độ chuyên biệt là 89%, và chính xác là 84,7%.
“Độ chuyên biệt của siêu âm chẩn đoán đo độ đàn hồi không quá thấp và độ chính xác thì tương đương so với siêu âm thường quy”, các tác giả đã nhận định.
Họ đã làm nổi bật một số ưu thế của kỹ thuật siêu âm chẩn đoán đo độ đàn hồi với phương pháp CAM: đó là một hệ thống đơn giản cung cấp hình ảnh chất lượng cao với một tốc độ cao hơn. Nó cũng cho phép sự chuyển chỗ của đầu dò theo chiều dọc và sang hai bên được nhanh hơn.
Tuy nhiên công trình nghiên cứu này cũng có một số giới hạn: đa số những nghiên cứu này được thực hiện chủ yếu ở các bệnh nhân ung thư bởi vì họ là trung tâm y học hướng dẫn. Mặt khác các thương tổn được nghiên cứu là những tổn thương lớn. Cuối cùng, điểm yếu của siêu âm chẩn đoán đo độ đàn hồi là hình ảnh và chỉ số đàn hồi bị ảnh hưởng bởi lực của đầu dò lên mô vú. Các tác giả đã nhấn mạnh cần có sự rèn luyện phương pháp đặt đầu dò với một lực vừa đủ khi thực hiện do chỉ số đàn hồi.
Dù vậy các nhà nghiên cứu dự đoán rằng với các cải tiến trong tương lai KTĐH sẽ trở nên “vô giá” trong thăm khám lâm sàng. “Với hệ thống này, tổn thương sẽ được phát hiện dễ dàng bởi vì hình ảnh đàn hồi hiển thị màu được đặt trên phương pháp siêu âm B mode. Chúng tôi tin tưởng với sự kết hợp của kĩ thuật siêu âm đo độ đàn hổi vào siêu âm thường quy, có thể giảm đi những tổn thương ở giai đoạn 3-4 (theo BI-RAD) khi chúng đang còn ở giai đoạn 1-2”.